Phân tích thực trạng dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên và ý kiến đánh giá nhận xét về dự án

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
1. Lý do lựa chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Nội dung chính của đề tài 3
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG DỰ ÁN KHAI THÁC BOXIT Ở TÂY NGUYÊN VÀ Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT VỀ DỰ ÁN 4
1. Giới thiệu chung về Dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên 4
1.1 Nguồn tài nguyên bô-xít 4
1.2 Quan điểm phát triển 4
1.3 Nội dung chủ yếu của Quy hoạch 5
2. Thực trạng triển khai dự án Boxit ở Tây Nguyên 7
2.1 Quá trình chuẩn bị triển khai dự án 8
2.2 Thực trạng triển khai dự án 10
2.2.1 Dự án Boxit Tân Rai tại Lâm Đồng 11
2.2.2 Dự án Boxit Nhân Cơ tại Đắk Nông 13
2.3 Các ý kiến về Dự án khai thác Boxit tại Tây Nguyên 13
2.3.1 Về mặt kinh tế 13
2.3.2 Về môi trường 16
2.3.3 Về xã hội 17
2.3.4 Về chính trị 18
3. Nhận xét, đánh giá về dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên 19
3.1 Về mặt kinh tế 19
3.2 Về mặt xã hội của dự án 20
3.3 Về mặt môi trường của dự án 20
3.4 Về mặt chính trị của dự án 21
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước có trữ lượng bo-xit lớn nhất và có chất lượng tốt nhất thế giới, trong đó khu vực Tây Nguyên là khu vực có trữ lượng lớn nhất. Tuy nhiên trên thực tế trong các năm vừa qua thì Việt Nam hàng năm vẫn nhập 1.2 tỷ USD nhôm, điều này gây lãng phí rất nhiều cho quốc gia khi mà với trữ lượng boxit như hiện tại thì Việt Nam hoàn toàn có thể tự khai thác boxit để sản xuất nhôm phục vụ không chỉ cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiểu được vấn đề trên cũng như tầm quan trọng của việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu giá trị kinh tế như boxit, chính phủ Việt Nam đã đồng ý và thông qua việc triển khai Dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên từ năm 2009 thông qua việc triển khai 2 dự án là dự án boxit Nhân cơ tại Đắk Nông và dự án Tân Rai tại Lâm Đồng. Hai dự án đều do tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm chính trong việc đầu tư thực hiện và quy hoạch.

33

khai thác

Ngay từ khi mới bắt đầu triển khai cho đến nay, dự án đã gặp rất nhiều luồng ý kiến trái ngược. Bên cạnh những phân tích ban đầu về những lợi ích của dự án mang lại như tiết kiệm được nguồn ngân sách nhà nước trong việc nhập nhôm, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng thông qua việc xuất khẩu nhôm, tạo công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên qua đó nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của người dân…thì nhiều chuyên gia hàng đầu cũng đã phân tích những tác động xấu của dự án đến môi trường, đời sống xã hội của người dân,an ninh quốc phòng của quốc gia và đặc biệt là hiệu quả kinh tế mà dự án thực sự mang lại. Trải qua hơn 6 năm triển khai dự án thì cho đến nay hiệu quả kinh tế dự án vẫn chưa đạt được như kỳ vọng ban đầu thậm chí là bị âm ngân sách nhà nước, các tác động của dự án tới môi trường, xã hội vẫn gây nhiều tranh cãi. Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “Phân tích thực trạng dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên và ý kiến đánh giá nhận xét về dự án.”
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài là thực hiện tìm hiểu, đánh giá thực trạng dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên từ đó đưa ra những ý kiến cũng như đánh giá nhận xét về dự án, đề xuất một số giải pháp cho dự án trên.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quá trình triển khai dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên từ khi bắt đầu thực thi đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập nguồn tài liệu từ các báo cáo, các số liệu thống kê, internet, báo chí đề từ đó đưa ra thực trạng dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên
5. Nội dung chính của đề tài
Đề tài bao gồm các phần chính sau:
1. Giới thiệu chung về dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên
2. Thực trạng triển khai dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên
3. Nhận xét, đánh giá về dự án khai thác boxit ở Tây Nguyên

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG DỰ ÁN KHAI THÁC BOXIT Ở TÂY NGUYÊN VÀ Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT VỀ DỰ ÁN

1. Giới thiệu chung về Dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên
Dự án khai thác Boxit ở Tây Nguyên là một loạt các dự án khai thác mỏ bô xít ở khu vực Tây Nguyên, Việt Nam..Ngày 1 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.
Theo báo cáo ĐBQH khóa XII, kỳ họp thứ 5 của Chính Phủ năm 2009 về việc triển khai quy hoạch phát triển các dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm như sau:
1.1 Nguồn tài nguyên bô-xít
Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn bô-xít lớn trên thế giới. Tổng trữ lượng quặng bô-xít đã xác định và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ tấn (đứng thứ 3 thế giới), trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn. Trữ lượng đã xác định khoảng 4,4 tỷ tấn, dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và nhôm kim loại Việt Nam.
Nguồn tài nguyên bô-xít của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên với trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 5,4 tỷ tấn, trong đó Đăk Nông khoảng 3,4 tỷ tấn (chiếm 63% tổng trữ lượng), Lâm Đồng khoảng 975 triệu tấn (chiếm 18%), Gia Lai – Kon Tum khoảng 806 triệu tấn (chiếm 15%) và Bình Phước khoảng 217 triệu tấn (chiếm 4%). Mặc dù Tây Nguyên là địa bàn kinh tế – xã hội còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí còn hạn chế, nhưng lại là khu vực có lợi thế về nguồn tài nguyên bô-xít chiếm 98,2% tổng trữ lượng và tài nguyên bô-xít.
1.2 Quan điểm phát triển
Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến,sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã xác định quan điểm phát triển như sau:
• Phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản bô-xít phải phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và phát triển mạng hạ tầng cơ sở liên quan (giao thông vận tải, cảng biển, điện…) . Đảm bảo thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên bô-xít tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp việc phát triển kinh tế – xã hội với việc bảo vệ anh ninh, quốc phòng tại các địa bàn có khoảng sản bô-xít, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên.
• Xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng bô-xít với công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Hình thức chủ đạo là doanh nghiệp Việt Nam làm chủ đầu tư xây dựng, kêu gọi các đối tác trong và ngoài nước tham gia góp vốn cổ phần trên nguyên tắc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (đối với các khu vực bô-xít tại Tây Nguyên) nắm giữ cổ phần chi phối để đảm bảo sự chủ động và phát triển bền vững, tham gia vào thị trường alumin và nhôm thế giới.
• Phát triển ngành công nghiệp sản xuất alumin và luyện nhôm phải đảm bảo phát triển hài hòa kinh tế – xã hội khu vực Tây Nguyên và các địa phương liên quan.
1.3 Nội dung chủ yếu của Quy hoạch
Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 với mục tiêu khai thác bô-xít, sản xuất alumin đạt chất lượng cho điện phân nhôm, sản xuất hydroxit nhôm và nhôm kim loại. Quyết định phê duyệt Quy hoạch được công bố công khai trên Công báo theo đúng quy định hiện hành, đồng thời được đưa tin rộng rãi trên báo chí ngay sau đó.
a) Về sản lượng và tổ chức thực hiện:
Về sản lượng:Dự kiến đến năm 2010 sản lượng alumin khoảng 0,7 – 1,0 triệu tấn/năm; hydroxit nhôm khoảng 0,6 triệu tấn/năm.

34

liên hệ 0914002543

Năm 2015: alumin khoảng 6,0 – 8,5 triệu tấn/năm, nhôm điện phân khoảng 0,2 – 0,4 triệu tấn/năm; hydroxit nhôm khoảng 1,2 triệu tấn/năm.
Năm 2025: alumin khoảng 13 – 18 triệu tấn/năm, nhôm điện phân khoảng 0,4 – 0,8 triệu tấn/năm.
Giai đoạn trước năm 2015, sản phẩm alumin dự kiến xuất khẩu; giai đoạn sau 2015, sản lượng alumin cung cấp cho điện phân nhôm trong nước và xuất khẩu.
Về tổ chức thực hiện:
Giao Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) chịu trách nhiệm chính trong việc đầu tư thực hiện quy hoạch các dự án bô-xít tại Tây Nguyên.
b) Về số lượng các dự án:
Giai đoạn 2008 – 2010: dự kiến triển khai 3 dự án alumin, gồm Tân Rai (Lâm Đồng), Nhân Cơ (Đăk Nông 1) và Kon Hà Nừng (Gia Lai); 01 dự án hydroxit nhôm tại Bảo Lộc (Lâm Đồng). Các dự án này đều do Việt Nam tự đầu tư.
Giai đoạn 2011-2015: Quy hoạch dự kiến triển khai đầu tư tiếp 03 dự án là Đăk Nông 2, Đăk Nông 3 và Đăk Nông 4. Cả 3 dự án này đều đã có đối tác nước ngoài mong muốn hợp tác đầu tư, bao gồm Chalco (Trung Quốc), Alcoa (Mỹ) và BHPM (Anh) với tổng công suất dự kiến 4,5 -6 triệu tấn alumin/năm. Các đối tác trên đều là các nhà sản xuất alumin-nhôm hàng đầu trên thế giới, có đủ năng lực tài chính, sở hữu công nghệ tiên tiến, có mong muốn bao tiêu sản phẩm alumin, đây là các yếu tố cơ bản để đảm bảo sự thành công của dự án.
Giai đoạn 2016-2025: dự kiến duy trì và mở rộng 6 dự án alumin của giai đoạn 2008-2015; tùy theo khả năng thị trường, dự kiến mở rộng nâng công suất các dự án này lên gấp đôi. Đầu tư thêm một dự án alumin Bình Phước với công suất 1- 1,5 triệu tấn/năm. Dự kiến tổng công suất của giai đoạn này đạt khoảng 13-18 triệu tấn alumin/năm. Giai đoạn 2016-2025 chủ yếu mang tính chất định hướng, tùy theo khả năng thị trường, tài chính, tình hình kinh tế – xã hội của đất nước và khu vực, trên cơ sở kinh nghiệm vận hành cụ thể của các dự án giai đoạn 2008-2015 cũng như mức độ ảnh hưởng môi trường trong khu vực để xác định và điều chỉnh tiến độ cũng như quy mô các dự án.
Dự án Boxit Tân Rai tại Lâm Đồng bao gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn đầu từ 2003 đến 2013, dự kiến tổ hợp boxit – nhôm sẽ đạt công suất hàng năm là 72.300 tấn nhôm điện phân, 300.000 tấn alumin (trong đó 141 nghìn tấn để điện phân nhôm, còn lại sẽ xuất khẩu), khai thác mỏ 1.980.000 tấn quặng nguyên khai.
Giai đoạn hai (giai đoạn mở rộng) từ 2013 trở đi, công suất sẽ được nâng lên gấp 2 lần, đạt 146.100 tấn nhôm điện phân, 600.000 tấn alumin (trong đó 284 nghìn tấn để điện phân nhôm, còn lại sẽ xuất khẩu) và khai thác mỏ 3.960.000 tấn quặng nguyên khai.
Dự án Boxit Nhân cơ tại Đắk Nông
Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ bao gồm tổ hợp Nhà máy tuyển quặng Bô xít và Nhà máy sản xuất Alumin được xây dựng tại xã Nhân Cơ, huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông, nằm cạnh đường Quốc lộ 14, cách TP. Hồ Chí Minh khoảng 220 km về phía Đông Bắc, cách Buôn Ma Thuột khoảng 140 km và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 20 km về phía Nam Tây Nam.
Các công trình chính được bố trí như sau:
Khai trường khai thác quặng: Tổ hợp sẽ khai thác quặng bô xít tại mỏ Nhân Cơ. Đây là mỏ bô xít lớn, tổng diện tích 286,4 km2, gồm 3 khu: Kiến Thành 35,7 km2 – diện tích chứa quặng khoảng 18 km2 (khoảng 60 triệu tấn quặng tinh); Đắk Sin 48,5 km2 – diện tích chứa quặng khoảng 24 km2 (khoảng 90 triệu tấn quặng tinh), Khu còn lại: 202,17 km2 – diện tích chứa quặng khoảng 118 km2 (khoảng 300 triệu tấn quặng tinh); tổng trữ lượng quặng tinh khoảng 450 triệu tấn. Giai đoạn đầu tiên, dự kiến bô xít sẽ được khai thác tại khu vực Kiến Thành, trên diện tích khoảng 3.570 ha trong 30-50 năm.
Nhà máy tuyển quặng Bô xít: Bố trí nhà máy tuyển quặng bô xít trong trung tâm khu mỏ khai thác quặng bôxít, nằm phía Tây Nam vị trí đặt nhà máy Alumin với khoảng cách là 4 Km. Quặng bô xít sau khi được tuyển rửa (quặng tinh) sẽ được vận chuyển về Nhà máy alumin bằng hệ thống băng tải.
Nhà máy Alumin: Nằm ở phía Đông của mỏ (tại xã Nhân Cơ), cách nhà máy tuyển quặng Bô xít 4 km, nằm cách đường Quốc lộ 14 khoảng 1 km và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 20 km về phía Nam.
Quy mô: Dự án đã được Thủ tướng chính phủ cho phép nâng công suất Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ từ 300.000 tấn alumin/năm lên 600.000 tấn alumin/năm. Công trình quốc tế Nhôm Trung Quốc (CHALIECO) – Tổng thầu EPC Nhà máy alumin.
Nguồn vốn: Vốn đầu tư ban đầu của Dự án (dự kiến) khoảng 11.581 tỷ đồng (tương đương 702 triệu đô la Mỹ). Trong đó: Vốn của Chủ đầu tư: 20% ÷ 30%; vốn vay trong và ngoài nước: 70% ÷ 80%.
Thời gian dự án, tiến độ thực hiện:
+ Chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng: 2 năm.
+ Mua sắm thiết bị, xây lắp đưa vào vận hành: 2 năm
+ Dự kiến đến năm 2012, Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ đi vào hoạt động chính thức và sẽ sản xuất ra tấn sản phẩm alumina đầu tiên.
2. Thực trạng triển khai dự án Boxit ở Tây Nguyên
2.1 Quá trình chuẩn bị triển khai dự án
Tổng mức đầu tư của dự án này đến năm 2029 là từ 190.000-250.000 tỷ đồng. Do cụm dự án có nhiều mỏ, cụm nhà máy và công trình phụ trợ cho nên phải xây dựng một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km, vì vậy tổng mức đầu tư ước tính khoảng 3,1 tỷ USD. Dự án cũng đặt ra yêu cầu phải có một cảng biển để xuất khẩu sản phẩm.
Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng boxit giai đoạn 2007-2015 (có xét đến năm 2025) được Chính phủ phê duyệt nêu kế hoạch xây dựng cảng chuyên dụng tại khu vực biển Bình Thuận (Bắc Hòn Gió hoặc Hòn Kê Gà). Năm 2009, Chính phủ duyệt quy hoạch xác định cảng Kê Gà thuộc nhóm cảng biển Nam Trung Bộ. Cảng này được chia làm hai phần, trong đó khu Bắc Kê Gà là cảng chuyên dùng làm khu liên hợp alumin. Dự án cảng biển Kê Gà có tổng giá trị trên 20.000 tỷ đồng, do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) làm chủ đầu tư sẽ gồm các bến xuất, bến nhập hàng hóa và bến bốc dỡ xuất khẩu alumin. Cảng dài khoảng 2,3 km với tổng diện tích 366 ha với tổng mức đầu tư trên 20.000 tỷ đồng.
Tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra yêu cầu sớm thu xếp vốn cho Dự án nâng cấp tuyến tỉnh lộ 725 đoạn từ nhà máy Alumin Tân Rai đến quốc lộ 20. Trong thời gian cảng Kê Gà chưa hoàn thành, sản phẩm của Tổ hợp boxit – nhôm Lâm Đồng dự kiến sẽ được vận chuyển theo hai tuyến trong đó Tuyến 1 đi từ tỉnh lộ 725-Quốc lộ 20-Quốc lộ 27-Quốc lộ 1-cảng Cam Ranh (Khánh Hòa) và Tuyến 2 đi từ tỉnh lộ 725-Quốc lộ 20-Tỉnh lộ 769-Quốc lộ 51-cảng Gò Dầu (Đồng Nai)
Ngày 6/3/2014, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã đồng ý dừng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà sau hơn 5 năm triển khai và 1 năm tạm dừng đầu tư xây dựng và chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải tiếp tục nghiên cứu, lập dự án đầu tư cảng tổng hợp cho các dự án boxit, titan và hàng hóa tổng hợp khác cho giai đoạn sau năm 2020, phục vụ phát triển kinh tế xã hội khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Theo lãnh đạo Vinacomin, alumin từ dự án bô xít Tây Nguyên sẽ được vận chuyển trước mắt qua cảng Gò Dầu (Đồng Nai). Ngoài ra, Bình Thuận đang triển khai xây dựng cảng Vĩnh Tân để thay thế.
Đối với việc chuẩn bị diện tích đất, rừng để chuẩn bị triển khai cho dự án thì chính phủ cũng đã tính toán như sau:
• Đối với tỉnh Đăk Nông, tổng diện tích dự kiến sẽ khai thác trong cả đời dự án của toàn bộ các mỏ bô-xít khoảng 52.200 ha, chiếm 8,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (6515,3 Km2). Trước mắt, khi chỉ triển khai dự án Nhân Cơ thì diện tích khai thác mỏ bô-xít chỉ chiếm 1,53% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Nếu tính theo năm giai đoạn một của dự án Nhân Cơ thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 50-60 ha/năm ở nơi thân quặng dày và 70-100 ha/năm ở nơi thân quặng mỏng) chỉ chiếm 0,01% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Nếu tính tối đa theo năm cho các dự án ở Đăk Nông thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 800-900 ha/năm) cũng chỉ chiếm 0,14% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
• Đối với tỉnh Lâm Đồng, tổng diện tích các mỏ bô-xít dự kiến sẽ khai thác chiếm 1,4% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (9772,2 Km2). Riêng dự án Tân Rai thì diện tích khai thác mỏ bô-xít chỉ chiếm 0,3% diện tích toàn tỉnh. Nếu tính theo năm của giai đoạn một dự án Tân Rai thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 50 – 60 ha/năm ở nơi thân quặng dày và 70 – 100ha/năm ở nơi thân quặng mỏng) chỉ chiếm 0,006% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
Về cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực cho dự án:
Cung cấp nước: đối với dự án Tân Rai thì sẽ thiết kế xây dựng hồ Cai Bảng với diện tích lưu vực 134 km2, , diện tích hồ 222 ha, dung tích chứa nước 17,2 triệu m3; đối với dự án Nhân Cơ sẽ sử dụng giải pháp tôn cao đập của các hồ Nhân Cơ và Cầu Tư hiện có, sẽ tăng dung tích chứa nước của 2 hồ trên từ 2,08 triệu m3 đảm bảo đủ nguồn nước cho dự án, không ảnh hưởng đến nước sản xuất và nước sinh hoạt của địa phương.
Cung cấp điện: Nhu cầu tiêu hao điện cho sản xuất alumin không lớn, bình quân khoảng 200-256 kWh/năm (tương đương nhà máy điện công suất 30 MW), Tại các nhà máy alumin sẽ đầu tư các nhà máy nhiệt điện tựùng với quy mô khoảng 30 MW, chỉ sử dụng nguồn điện lưới trong giai đoạn thi công dự án và là nguồn dự phòng cho sản xuất.
Về nhân lực cho dự án:
Lao động cần cho mỗi dự án Tân Rai (hoặc Nhân Cơ) cần khoảng 1.500 – 1.700 người. Trong đó phần nhà máy alumin là 700- 800 người. Phần mỏ tuyển khoảng 800 – 900 người. Để đáp ứng nhu cầu này, TKV đã và đang tích cực và chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực theo các hướng: cử đi đào tạo ở nước ngoài (gồm cả thông qua các hợp đồng EPC – có nội dung đào tạo và chuyển giao công nghệ) và đào tạo trong nước bằng kinh phí của TKV, trên nguyên tắc ưu tiên trước hết đào tạo con em đồng bào dân tộc địa phương;
Về vấn đề này, TKV đã kí kết Chương trình phối hợp hành động phát triển bền vững công nghiệp nhôm gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đăk Nông với UBND tỉnh Đăk Nông và sẽ kí kết với UBND tỉnh Lâm Đồng bản Chương trình hành động tương tự và cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc thỏa thuận trên.
2.2 Thực trạng triển khai dự án
Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) hiện đã đầu tư 2 dự án khai thác bô-xít là Dự án Boxit Nhân Cơ tại Đắk Nông và Dự án Boxit Tân Rai tại Lâm Đồng. Tổng vốn đầu tư đến tháng 4/2013 của Dự án Boxit Tân Rai là 11.612 tỷ đồng , Dự án Boxit Nhân Cơ là 6.836 tỷ đồng. Tổng mức đầu tư dự án Tân Rai tăng khoảng 31%, trong đó 73% tăng do nhiều nguyên nhân như: tỷ giá, tăng lãi vay đầu tư, giải phóng mặt bằng và một số điều chỉnh hạng mục công trình như hồ bùn đỏ, đập còn nguyên nhân chủ quan chiếm khoảng 20-30%. Hai dự án tăng tổng mức vốn đầu tư với tỷ lệ tương tự, nhưng nếu quy về USD không tính đến tỷ giá thì tỷ lệ tăng tổng mức đầu tư giảm đi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>