Những tác động của FDI đến phát triển kinh tế tại Việt Nam

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1.1 Lý do chọn đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Nội dung của đề tài. 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.2 Cơ sở lý luận về FDI và tăng trưởng kinh tế 10
1.3 Thực trạng tình hình thu hút FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt nam 18
1.3.1 Tình hình thu hút FDI của Việt nam 18
1.3.2 Tăng trưởng kinh tế của Việt nam 18
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Các biến số và thu thập dữ liệu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu cho đề tài 20
2.2.1 Mô hình lý thuyết cơ bản và các giả thuyết 20
2.2.2 Phương pháp kiểm định tính dừng 21
2.2.3 Phương pháp phân tích 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM CỦA NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 26
3.2 Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 26
3.3 Xác định độ trễ tối ưu 27
3.4 Kết quả phân tích tác động của FDI tới GDP 29
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 31
1.1 Các kết quả nghiên cứu 31
1.2 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài. 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC. 40
Phụ lục 1. Kết quả mô hình OLS 40

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Thuật ngữ Tiếng Việt
ADF Phương pháp Dickey-Fuller
OLS Bình phương nhỏ nhất
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại.
X/M Tổng kim ngạch xuất khẩu/ tổng kim ngạch nhập khẩu
VAR Mô hình vector tự hồi quy.
MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong gần 30 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá thuyết phục về kinh tế và xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 7,3% giai đoạn 1990-2014, GDP thực bình quân đầu người tăng trung bình trên 5% hàng năm và tỷ lệ nghèo giảm từ gần 80% năm 1986 xuống còn 6% vào năm 2014. Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam luôn được xếp vào nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời có thành tích giảm nghèo nhanh trên thế giới.

29

Tác động của FDI

Bên cạnh mở cửa cho thương mại, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, trước hết là khung khổ pháp luật nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam đã ký hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 45 nước và vùng lãnh thổ, trong đó phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đều mở rộng hơn so với những qui định hiện hành của Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam. Các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn FDI vào Việt Nam. Chỉ tính riêng năm 2014, Việt Nam đã thu hút được khoảng 20 tỷ USD. Đến nay, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế với đóng góp vào GDP ngày càng tăng, ước đạt 14% vào năm 2014. Ngoài ra, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo thêm việc làm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước và đóng góp cho Ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy việc nghiên cứu những tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế là rất cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự tăng trưởng kinh tế cùng với các biến số vĩ mô khác như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cán cân thương mại, đầu tư nước ngoài bằng cách sử dụng bộ dữ liệu từ tháng 1/2004 – tháng 12/2014… nhằm mục đích trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
– Có tồn tại mối quan hệ giữa FDI và sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam không?
– Trong nhiều thập kỷ qua, FDI đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế liên tục của Việt Nam?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên một bài nghiên cứu “The Impact of Foreign Direct Investment on Economic Growth: A Case Study of Turkey 1980–2012” của tác giả Ahmed Abdulrahman Khder Aga (Iraq), đề tài tiến hành bài nghiên cứu với những mục tiêu đã đề cập ở trên. Bài nghiên cứu này sử dụng phân tích định lượng là chủ yếu với các bước tiến hành như sau:
Bước 1 : Xác định các biến và thu thập dữ liệu quan sát từ tháng 1/2004 đến tháng 10/2014.
Bước 2 : Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu và khắc phục tính không dừng của chuỗi dữ liệu bằng cách lấy sai phân.
Bước 3 : Lựa chọn độ trễ tối ưu trong VAR.
Bước 4 : Phân tích mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS
Bước 5 : Sử dụng mô hình ADF để kiểm định tính dừng của mô hình
Việc tiến hành các bước nghiên cứu đề cập như trên nhằm góp phần tìm hiểu sự tác động giữa FDI, tốc độ tăng trưởng kinh tế và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Đặc biệt, đề tài này sẽ đi nghiên cứu giữa FDI và sự tăng trưởng kinh tế có tồn tại mối liên hệ nào hay không.
1.4 Nội dung của đề tài.
Bài nghiên cứu gồm có 5 phần:
• Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
• Tổng quan các nghiên cứu trước đây.
• Trình bày phương pháp nghiên cứu.
• Nêu kết quả của nghiên cứu.
• Đưa ra một số kết luận, nhận xét.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển. FDI bổ sung cho nguồn vốn đầu tư, cung cấp công nghệ mới, giải quyết việc làm phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tại Việt Nam FDI trung bình trong giai đoạn 2005 – 2014 đầu tư FDI cung cấp một lượng vốn là 1.806 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm cho 16 vạn lao động mỗi năm tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 có 22 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD (Hải Quan Việt Nam).

30

Liên hệ dichvuluanvanaz@gmail.com

 

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy FDI có tác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng FDI 3% làm GDP tăng 1 % (Nguyễn Phú Tụ & Huỳnh Công Minh, 2010). Trong khu vực Đông Nam Á nghiên cứu của Mun và công sự (2008) cho thấy nguồn vốn FDI đóng góp 17% tăng trưởng của kinh tế Malaysia. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy FDI có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, nhưng tại Việt Nam các nghiên cứu vẫn chỉ tập trung vào việc thu hút nguồn vốn FDI mà thiếu đi những nghiên cứu về ảnh hưởng của FDI đến sự phát triển kinh tế đất nước.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về FDI và tăng trưởng kinh tế được thực hiện bởi nhiều tác giả, với đa dạng đối tượng nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Về đối tượng nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chủ yếu ở cấp độ quốc gia, khu vực bao gồm nhiều quốc gia. Một số ít nghiên cứu ở cấp độ vùng trong một quốc gia như Wei K. (2008), Svetlana Ledyaeva và Mikael Linden (2010). Kết quả đạt được của các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất. Ba phân tích đầu tiên về tác động của FDI đến nước nhận đầu tư có Caves (1974), Globerman (1979), Blomstrom và Persson (1983), các tác giả này đã ước tính sự tồn tại của tác động lan tỏa bằng cách kiểm tra liệu FDI có tác động đến năng suất lao động địa phương ở các công ty Australia, Canada và Mexico. Kết quả của tất cả những nghiên cứu này, được báo cáo là FDI có tác động quan trọng và tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu cung cấp bằng chứng tác động dương của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở nước nhận đầu tư, đặc biệt là ở các nước đang phát triển (Ozawa, 1992; Blomstrom và Wolff, 1994; Zhang, 2001; Yao, 2006 và Yao và Wei 2007). Gần đây, Aviral Kumar Tiwari, Mihai Mutascu (2011) thấy rằng cả hai FDI và xuất khẩu tăng cường quá trình tăng trưởng. Một số học giả cũng nhận định giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực hai chiều (Zhang, 2001; Liu, Burridge và Sinclair, 2002; Choe, 2003; Hansen và Rand, 2006; Abdus Samad, 2009).
Một số nghiên cứu tìm thấy tác động tiêu cực của FDI đến nước nhận đầu tư. Cantwell (1989) xem xét tác động lan tỏa của doanh nghiệp các nước châu Âu trong sự hiện diện của doanh nghiệp đa quốc gia Hoa Kỳ giai đoạn 1955-1975. Không phải tất cả các ngành công nghiệp châu Âu đã được tìm thấy có tác động lan tỏa tích. Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài với những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Kết quả đạt được rất đa dạng: Tác động dương của FDI đến tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006; Le Thanh Thuy, 2007; Aviral và Mihai, 2011; Chien et al., 2012; Elsadig, 2012); Tăng trưởng kinh tế tác động đến FDI (Anh và Thang, 2007; Ab Quyoom Khachoo và Khan, 2012; Fayyaz Hussain, Constance Kabibi Kimuli, 2012; Chirstian và C. Richard, 2012; Cuong et al., 2013). Một số nghiên cứu phát hiện mối tương quan đồng thời hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Caves, 1996; Zhang 2000; Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen, 2010; Chien và Linh, 2013) và các nghiên cứu cho thấy tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cần có những điều kiện về nguồn nhân lực, quy mô thị trường, độ mở của nền kinh tế (Blomstrom et al., 1992; Borensztein et al., 1998; Basu et al., 2003). Bên cạnh đó, FDI không có tác động đến tăng trưởng kinh tế (Ericsson và Irandoust, 2001; Carkovic và Levine, 2002; Dilek và Aytac, 2013).
Trên thực tế, các nghiên cứu giữa FDI và tăng trưởng kinh tế chủ yếu thực hiện ở không gian quốc gia và một số ít thực hiện ở không gian vùng trong quốc gia. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được thực hiện chủ yếu đối với tổng thể quốc gia, như các nghiên cứu của Nguyễn Mại (2003), Nguyen Thi Phuong Hoa (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh, (2006), Le Thanh Thuy (2007) và một số nghiên cứu ở cấp độ vùng (Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen, 2010; Chien et al., 2012). Kết quả của các nghiên cứu cho thấy tồn tại đa dạng mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, khai thác những ưu điểm của phương pháp nghiên cứu nói chung cũng như phương pháp nghiên cứu định lượng nói riêng chưa được quan tâm, cũng như tính cập nhật dữ liệu thực tiễn chưa được thực hiện, nhất là thời điểm kinh tế có những khó khăn như hiện nay. Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP (Điều 15), ngày 07 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ về Lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 về Sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, Việt Nam có sáu vùng kinh tế-xã hội: vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi vùng có những đặc trưng về kinh tế xã hội, nên mức phát triển, cũng như tính hấp dẫn dòng vốn FDI khác nhau. Mặc dù dòng vốn FDI ở các vùng có khác biệt, nhưng đóng góp của FDI đối với tăng trưởng kinh tế rất đáng kể, thể hiện tỷ lệ FDI/GDP qua các năm: 19% (năm 2011), 17% (năm 2012); FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, đóng góp vào ngành công nghiệp hỗ trợ, tạo việc làm, tạo nguồn thu cho NSNN, góp phần hội nhập quốc tế. Khi nghiên cứu chi tiết các cấp không gian, thì đóng góp của FDI đối với tăng trưởng kinh tế có sự chênh lệch giữa các vùng, liên kết vùng và tổng thể vùng ở Việt Nam.
1.2 Cơ sở lý luận về FDI và tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Cơ sở lý luận về FDI
1.2.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về cơ bản, đầu tư hàm chứa hai khía cạnh là hoạt động đầu tư và vốn đầu tư. Hoạt động đầu tư là bao gồm tất cả các công việc có liên quan để chuyển hóa khối lượng tiền và các nguồn lực (máy móc, vật tư nguyên liệu, đất đai,…) thành vốn đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuân trong tương lai. Còn vốn đầu tư là tổng số tiền và giá trị các nguồn lực được quy thành tiền được sử dụng để thực hiện hoạt động đầu tư. Hay nói cách khác, vốn đầu tư là kết quả trực tiếp của hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư quốc tế trực tiếp đã được thực hiện từ rất sớm trong lịch sử, lúc đầu là với động lực tìm kiếm nguồn nguyên liệu thô. Sau đó, cùng với đà phát triển của kinh tế và thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế được đẩy mạnh và cho nhiều mục tiêu khác như tìm kiếm thị trường, tối đa hóa lợi nhuận, phân tán rủi ro,…
Vốn FDI là tổng số tiền và giá trị các nguồn lực khác được quy thành tiền mà nhà đầu tư sử dụng để thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Về khái niệm đầu tư quốc tế trực tiếp, hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) là đầu tư từ nước ngoài mà mang lại lãi suất từ 10% trở lên. Theo cách định nghĩa của Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường”. Và theo quy định tại Luật đầu tư năm 2005 tại Việt Nam: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Khái niệm này đề cập nhiều đến đối tượng của quá trình đầu tư. Đó không đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà kèm theo nó có thể là sự chuyển giao công nghệ hay có tài sản vô hình khác (khái niệm này nhìn nhận dưới góc độ của nước tiếp nhận đầu tư).
Từ những khái niệm nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm ngắn gọn và tương đối dễ tiếp cận như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình, hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi, được tiến hành thông qua các dự án.
Khác với đầu tư nói chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có điểm nổi bật là chủ đầu tư có quốc tịch khác nhau. Hoạt động đầu tư của họ được tiến hành thông qua các dự án FDI. Trong các dự án này, nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành một phần, hoặc toàn bộ dự án (tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư) để đạt được mục đích của họ trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại.
Có nhiều nhân tố tác động đến thu hút FDI, song có một số nhóm nhân tố chính sau:
Thứ nhất, môi trường đầu tư; Môi trường đầu tư bao gồm: môi trường pháp lý minh bạch phù hợp với các chuẩn mực quốc tế; môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, lạm pháp được kiểm soát tốt; môi trường xã hội; môi trường tự nhiên. Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng trong thu hút FDI, bởi trong một môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, minh bạch sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến các nhà đầu tư dè dặt và quan ngại trong bảo toàn vốn và thu nhập. Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động tích cực đến việc thu hút FDI của một quốc gia. Các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững thường thu hút FDI nhiều hơn các nước có nền kinh tế – xã hội không ổn định.
Thứ hai, chất lượng cơ sở hạ tầng phải đầy đủ và đồng bộ; Hạ tầng cơ sở bao gồm hạ tầng cơ sở vật chất – kỹ thuật (hay cơ sở hạ tầng cứng) và hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội (hay cơ sở hạ tầng mềm). Hệ thống hạ tầng cơ sở liên quan đến cả các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy nó là điều kiện nền tảng để các nhà đầu tư có thể khai thác lợi nhuận. Nếu hạ tầng cơ sở yếu kém và thiếu đồng bộ thì nhà đầu tư rất khó để triển khai dự án, chi phí đầu tư tăng cao, quyền lợi của nhà đầu tư không được bảo toàn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhà đầu tư không mặn mà trong việc đầu tư vốn của mình.
Thứ ba,độ mở của nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và sự ổn định chính trị; Nền kinh tế càng mở cửa thì mức độ giao thương, buôn bán càng mạnh, các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất nhập khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơn trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, quy mô và tính chất thị trường nội địa; Đây là một trong những yếu tố tác động đến quy mô đầu tư và tổng lợi nhuận của nhà đầu tư. Để thu hút FDI ngoài tiềm năng đông dân, thì việc cải thiện đời sống, tăng thu nhập, tăng sức mua của cư dân trong nước cũng có tác động rất lớn đến thu hút FDI. Bên cạnh đó việc gia nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới cũng tạo ra thị trường rộng mở cho các nhà đầu tư và cũng là nhân tố tác động lớn đến việc quyết định địa bàn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Một là, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện chủ yếu là nguồn vồn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh. Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đều thuộc về chủ đầu tư. Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việc đầu tư. Vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu tư khá cao, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu.
Hai là, các bên tham gia vào dự án FDI thường có quốc tịch và sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Bên cạnh đó trong quá trình hoạt động dự án FDI là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau, do đó để có sự hợp tác tốt đẹp cần phải có sự giao hòa văn hóa giữa các bên trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Ba là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bị chi phối bởi nhiều nguồn luật khác nhau, thường sử dụng luật pháp của nước chủ nhà nhưng trong một chừng mực nào đó, sự hoạt động của dự án vẫn chịu ảnh hưởng luật pháp của nước có các bên tham gia đầu tư, luật quốc tế, thông lệ quốc tế và điều ước quốc tế.
Bốn là, FDI là hình thức kéo dài chu kỳ tuổi thọ sản xuất, chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật và nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật. Bởi trong quá trình thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao được công nghệ lạc hậu của nước mình, nhưng lại tiên tiến ở nước tiếp nhận đầu tư có trình độ phát triển thấp hơn.
1.2.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế
Theo Simon Kuznet (1966) “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”. Hay như định nghĩa do Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) đưa ra: “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Các nhà kinh tế học cổ điển đã sử dụng hai chỉ tiêu: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người (GNP/người) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người (GDP/người) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế. Hiện nay có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhưng tựu chung lại gồm có các nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực; Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế. Theo Schultz (1961), vốn con người bao gồm thể trạng, trình độ học vấn, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động. Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”. Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, vốn đầu tư; Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển muốn tích lũy vốn trong tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại. Vốn đầu tư của toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm cả lượng vốn đầu tư để phát triển lợi ích chung của toàn xã hội. Đó là lượng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ đầu tư. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn, viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển h tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là muốn tăng 1% GDP thì vốn đầu tư phải tăng 3%.
Thứ ba, tiến bộ công nghệ; Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng vì nó góp phần làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tiết kiệm lao động và vốn trên sản phẩm nên cùng lượng chi phí nhưng sản phẩm tạo ra nhiều hơn và mở ra các ngành nghề và sản phẩm mới. Nhiều phát minh, sáng kiến đã làm năng suất tăng mạnh như: động cơ hơi nước, máy phát điện, động cơ đốt trong vv… Ngày nay với đà phát triển công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới vv… đã góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất.
Thứ tư, xuất khẩu; Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế được thuật ngữ kinh tế gọi là “export-led growth”, nghĩa là tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu. Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng. Xuất khẩu làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa. Việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng nguồn lực và cạnh tranh của quốc gia. Xuất khẩu làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài. Xuất khẩu giúp giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại. Xuất khẩu thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất và cuối cùng xuất khẩu tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập.
Thứ năm, tài nguyên thiên nhiên; Mặc dù tiến bộ độ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển và được áp dụng sâu rộng trong sản xuất. Các yếu tố nhập lượng có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn đóng vai trò quyết định trong sản xuất sản phẩm của ngành và quốc gia (nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng vv…). Thực tiễn minh chứng quốc gia nào có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu về trữ lượng và chất lượng sẽ có nhiều thuận lợi trong thu hút và FDI và ngược lại.
1.2.3 Lý thuyết về tác động của FDI và tăng trưởng kinh tế
FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khu vực FDI là một thành phần kinh tế, đóng góp vào quá trình tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Một mặt, FDI bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế về phía cầu (cầu lao động, yếu tố nhập lượng vv…). Mặt khác, thông qua các hình thức đầu tư, FDI đã hình thành một hệ thống doanh nghiệp FDI, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về phía cung (sản phẩm, dịch vụ vv…).
Từ năm 1991 – 1995, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 8,2% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bình quân mỗi năm là 4,7%. Trong 5 năm 1996 – 2000, GDP bình quân hàng năm tăng 6,96% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bình quân mỗi năm là 10,4%. Trong thời kỳ 2001 – 2005, GDP tăng 7,5% /năm và tỷ trọng FDI/GDP là 14,6%/năm. Trong 2 năm 2006 và 2007, GDP tăng 8,3%/năm và tỷ trọng FDI/GDP là 17,3%/năm. Hai năm 2008 và 2009, GDP tăng 5,78%/năm và tỷ trọng FDI/GDP là 18,14%/năm.
FDI góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực. Đến nay, khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho trên 1,5 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác. Theo kết quả điều tra của WB cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, góp phần tăng GDP/đầu người/năm.
Hơn nữa, số lao động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến. Đặc biệt, các chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp FDI có thể từng bước thay thế dần các chuyên gia nước ngoài trong việc tham gia quản lý doanh nghiệp và điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ ba, FDI đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô. Trong thời gian qua, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn FDI vào ngân sách nhà nước ngày càng tăng . Thời kỳ 1996 – 2000, không kể thu từ dầu thô, đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001 – 2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007, khu vực kinh tế có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996 – 2000 và bằng 83% thời kỳ 2001 – 2005.
Như vậy, vai trò của FDI đối với nền kinh tế, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế, là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, những phân tích trên chỉ mới dừng lại ở mức độ định tính; tiếp theo tác giả sử dụng phương pháp kinh tế lượng để phân tích định lượng mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>