kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại Minh Thuyên

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô ThS. Thiều Thị Tâm, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết Báo cáo tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại Học Tài Chính Marketing đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Công Ty Cổ phần Thương Mại Minh Thuyên đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Công Ty.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công Ty Cổ phần Thương Mại Minh Thuyên luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc.

Trân trọng kính chào

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay với cơ thế thị trường mở cửa thì tiền lương là một vấn đề rất quan trọng. Đó là khoản thù lao cho công lao động của người lao động.
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người. Trong Doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên chúng ta phải tái tạo sức lao động hay ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia sản xuất kinh doanh.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian, chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp BHXH, Tiền thưởng… Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản liên quan kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

6

Bộ máy tổ chức

Từ đó thấy kế toán tiền lương là các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp cũng rất quan trọng. Do vậy em chọn đề tài “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Minh Thuyên”Làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp. Dưới sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn thực tập: Thiều Thị Tâm em sẽ tìm hiểu về chế độ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Minh Thuyên. Do trình độ và thời gian có hạn nên trong báo cáo thực tập này không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế vì vậy em mong được sự chỉ bảo và giúp đỡ của Cô Thiều Thị Tâm. Em xin trân thành cảm ơn cô đã giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo này.

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về hạch toán lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương
1.1.1 Ý nghĩa, vai trò nhiệm vụ của hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương
1.1.1.1 Khái niệm về tiền lương
Tiền lương (tiền công) là biểu hiện bằng tiền phần sản phẩm xã hội trả cho người lao động theo thời gian, chất lượng và kết quả lao động mà họ cống hiến.
Tiền lương là giá cả sức lao động, dựa trên cơ sở giá trị sức lao động. tiền lương theo quy chế mới tuân thủ theo quy luật cung cầu của thị trường sức lao động, chịu sự điều tiết của nhà nước và được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động.
Tiền lương được coi là khoản chi phí sản xuất của kinh doanh, nó cấu thành nên giá trị sản phẩm của hàng hóa, hoặc được xác định là một bộ phận của thu nhập, chính vì vậy trong giá thành sản phẩm tiền lương được xem là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh.
Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian hay khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. hay ta có thể nói tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền giữa lao động, tiền tệ và sản xuất hàng hóa.
1.1.1.2 Ý nghĩa về tiền lương và các khoản trích theo lương
– Tiền lương (hay tiền công lao động) là số tiền thù lao lao động của người lao động để họ tái sản xuất sức lao động.
Ngoài tiền lương, để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống lâu dài của người lao động, cán bộ công nhân viên còn được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn mà theo chế độ tài chính hiện hành các khoản này doanh nghiệp phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
– Quỹ bảo hiểm xã hội được trích vào chi phí sản xuất kinh doanh nhằm trợ cấp cho trường hợp công nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, mất sức, nghỉ hưu, bệnh nghề nghiệp.
– Quỹ bảo hiểm y tế: được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang, phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ của người lao động trong thời gian đau ốm, sinh để.
– Kinh phí công đoàn: để phục vụ chỉ tiêu cho hoạt động của tổ chăm lo bảo vệ quyền lợi của người lao động.
1.1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Hạch toán lao động, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ kiên quan đến quyền lợi của người lao động, mà còn liên quan đến các chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, liên quan đến tình hình chấp hành các chính sách về lao động tiền lương của Nhà nước. Để phục vụ yêu cầu quản lý chặt chẽ, có hiệu quả kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
– Tổ chức ghi chép chính xác, kịp thời, có hiệu quả: số lượng, chất lượng và thời gian lao động, tính đúng và thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản thu nhập của doanh nghiệp.
– Kiểm tra tình hình lao động và sử dụng lao động, việc chấp hành các chính sách, chế độ tiền lương và quỹ lương. Hướng dẫn các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện ghi chép lần đầu về lao động và tiền lương đúng đối tượng, đúng phương pháp.
– Tính và phân bổ chính xác chi phí tiền lương cho các đối tượng sử dụng lao động và các khoản tính theo tiền lương.
– Lập báo cáo và phân tích tình hình sử dụng lao động và tiền lương để có biện pháp đề xuất về quản lý lao động và tiền lương.
1.1.2 Các hình thức tiền lương và quỹ tiền lương
1.1.2.1 Các hình thức trả lương
Việc tính trả lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý. Thường áp dụng hai hình thức sau.
1.1.2.2 Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức tính lương theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương của người lao động. theo hình thức này tiền lương theo thời gian phải được tính bằng.
Tiền lương thời gian = thời gian làm việc * mức lương thời gian
• Hình thức trả lương theo thời gian bao gồm:
– Trả lương theo tháng: dựa vào bảng chấm công của người lao động làm việc trong một tháng để tính lương và chế độ phụ cấp theo lương (nếu có) theo thang bảng cấp bậc, chức vụ hoặc nghề nghiệp đã được nhà nước quy định.
Tiền lương 1 tháng = số ngày làm việc * mức lương 1 ngày
Mức lương 1 ngày = (mức lương tối thiểu * hệ số lương)/ số ngày làm việc trong 1 tháng theo quy định.
– Trả lương theo công nhật: người làm việc ngày nào được trả công theo ngày ấy, mức lương này chưa được nhà nước quy định chuẩn hóa thường không có mức thang bảng lương, người sử dụng thường căn cứ vào khối lượng công việc (chủ yếu dựa vào kinh nghiệm) để giao việc trong một ngày theo từng loại công việc cụ thể.

27

liên hệ 0914002543

• Ưu điểm: hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm là dễ tính, dễ theo dõi, đơn giản có thể kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng say làm việc, tạo nên tiền lương thời gian có thưởng.
• Nhược điểm: chưa gắn chặt tiền lương với kết quả và chất lượng lao động, kém kích thích người lao động.
1.1.2.3 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức tiền lương theo sản phẩm là hình thức tiên lương tính theo khối lượng (số lượng), chất lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng quy định và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm công việc đó.
Tiền lương sản phẩm = khối lượng sản phẩm công việc hoàn thành * đơn giá tiền lương sản phẩm.
Đây là hình thức trả lương cho người lao động dựa vào kết quả hoạt động, khối lượng và chất lượng sản phẩm của người lao động làm ra đối chiếu với tiêu chuẩn kỹ thuật của từng mức độ khác nhau để tính lương. Mỗi sản phẩm hoàn thành ở từng cấp loại đều có đơn giá quy định mức tiền lương theo bảng giá kế hoạch của nhà nước hay doanh nghiệp đã được duyệt.
Tiền lương phải trả = khối lượng sản phẩm hoàn thành * đơn giá tiền lương.
Đơn giá tiền lương càng chính xác thì việc trả càng hợp lý và càng kích thích được người lao động trong sản xuất, để khuyến khích được người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng các đơn giá lương sản phẩm khác nhau:
– Tiền lương sản phẩm giản đơn là tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định.
– Tiền lương sản phẩm có thưởng là tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất chất lượng sản phẩm.
– Tiền lương sản phẩm lũy tiến là tiền lương sản phẩm tăng dần áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm.
Ngoài ra còn tiền lương sản phẩm khoán, thực chất là một dạng của hình thức tiền lương sản phẩm.hình thức này có thể khoán việc, khoán khối lượng, khoán sản phẩm cuối cùng, khoán quỹ lương.
• Ưu điểm: Đảm bảo được nguyên tắc phân phối theo lao động, tiền lương gắn chặt với số lao động mà người công nhân đã bỏ ra, do đó kích thích người lao động quan tâm đến kết quả và chất lượng lao động của bản thân, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội. Vì vậy, hình thức tiền lương này được áp dụng rộng rãi.
• Nhược điểm: Nếu doanh nghiệp tính lương không sát với từng cấp bậc công việc và tay nghề của từng bậc thợ thì sẽ không có lợi cho doanh nghiệp.
1.1.2.4 Một số chế độ khác khi tính lương
Chế độ trả lương khi ngừng việc: theo điều 62 của bộ luật lao động quy định như sau: nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương, những người lao động khác trong cùng đơn vị ngừng việc được trả lương theo mức độ thỏa thuận giữa hai bên nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu. Nếu vì sự cố mất điện, nước mà không do lỗi người sử dụng lao động hoặc những nguyên nhân bất khả kháng ( thiên tai, bão lụt) thì tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng cũng không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Các chế độ phụ cấp tiền lương, nâng bậc lương và các chế độ khuyến khích khác, có thể được thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa ước tập thể hoặc quy định trong quy chế của doanh nghiệp; chất lượng sản phẩm, hiệu quả của từng người lao động, từng tổ sản xuất, từng hợp đồng giao khoán…
Như vậy, quản lý lao động vừa đảm bảo chấp hành kỷ luật và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích trong thi đua lao động sản xuất kinh doanh, đồng thời các tài liệu ban đầu về lao động là cơ sở để đánh giá và trả thù lao cho người lao động đúng đắn, hợp lý.
1.1.2.5 Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp
Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo số lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp quản lý và chi trả.
Quỹ tiền lương bao gồm:
– Tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, lương khoán.
– Tiền lương trả cho người lao động tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định.
– Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác làm nghĩa vụ do chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
– Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ và phụ cấp độc hại.
– Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
Trong doanh nghiệp, để phục vụ cho công tác hạch toán và phân tích tiền lương có thể chia ra tiền lương chính và tiền lương phụ.
– Tiền lương chính là tiền lương trả cho thời gian người lao động làm nhiệm vụ chính của mình theo nhiệm vụ được giao theo hợp đồng lao động.
– Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động thực hiện các nhiệm vụ khác do doanh nghiệp điều động như hội họp, tập tự vệ và lương trả cho công nhân nghỉ phép năm theo chế độ.
Để quản lý tốt quỹ lương, doanh nghiệp phải luôn gắn tiền lương với năng suất và hiệu quả lao động, đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động phải thấp hơn tốc độ tăng tiền lương.
1.1.3 Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, BHTN
Các khoản trích theo lương năm 2014:
• Tổng các khoản trích BHXH , BHYT , KPCĐ , BHTN theo quy định hiện hành: tiền lương * 34.5%
• Tổng các khoản trích BHXH , BHYT , KPCĐ , BHTN được tính vào chi phí sản xuất của DN: tiền lương * 24%
• Tổng các khoản trích BHXH , BHYT , KPCĐ , BHTN do người lao động chi trả: tiền lương * 10.5%
• Tổng khoản trích BHXH tại DN theo quy định hiện hành: tiền lương * 18%
• Tổng khoản trích BHYT tại DN theo quy định hiện hành: tiền lương * 3%
• Tổng khoản trích CPCĐ tại DN theo quy định hiện hành: tiền lương * 1%
• Tổng khoản trích BHTN tại DN theo quy định hiện hành: tiền lương * 2%
1.1.3.1 Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khoản chi phí bảo hiểm xã hội theo quy định của nhà nước. Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp phải trích bằng 26% mức lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động; trong đó 18% tính vào chi phí kinh doanh của đơn vị, 8% người lao động phải nộp từ thu nhập của mình.
Quỹ bảo hiểm xã hội được thiết lập nhằm tạo ra nguồn vốn tài trợ cho công nhân viên trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất sức nghỉ hưu…
1.1.3.2 Quỹ bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành của nhà nước trích 4,5% theo lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động, trong đó một phần do doanh nghiệp phải gánh chịu, được tính trích vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng tháng bằng 3% theo mức lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động, còn 1,5% do người lao động nộp thường được trừ vào lương của cán bộ công nhân viên.
Quỹ bảo hiểm y tế chi phí cho việc khám chữa, điều trị, tiền thuốc chữa bệnh ngoai trú… chi phí khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
1.1.3.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành của nhà nước trích 2% theo lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động , trong đó một phần do doanh nghiệp chi trả , được tính trích vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng tháng bằng 1% theo mức lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động, còn 1% do người lao động nộp thường được trừ vào lương của cán bộ công nhân viên.Trả trợ cấp thất nghiệp.
Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp sẽ hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, đóng bảo hiểm y tế cho người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ một phần thu nhập trong thời gian chưa kiếm được việc làm trong thời gian thất nghiệp
1.1.3.4 Kinh phí công đoàn
Kinh phí công đoàn nhà nước quy định trích 2% theo tiền lương thực tế của người lao động tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích cũng được phân cấp quản lý và chi tiêu theo chế độ quy định, trong đó: 1% để lại doanh nghiệp chi cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp còn 1% sẽ nộp lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên.
Ngoài lương và các khoản trích theo lương, doanh nghiệp còn một số khoản chi phí khác cho người lao động. đây là những khoản phụ thuộc vào khả năng và năng suất lao động như thưởng sáng kiến khoa học kỹ thuật, làm thêm giờ… các khoản thu nhập khác này cũng là một đòn bẩy kinh tế kích thích sự lao động sáng tạo của người lao động, làm cho người lao động hăng say lao động hơn, động viên khuyến khích kịp thời tinh thần và vật chất cho người lao động.
1.1.4 Tính và thanh toán tiền lương, thưởng, trợ cấp BHXH, BHTN
Việc tính lương, trợ cấp BHXH và các khoản phải trả cho người lao động thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp. Hàng tháng căn cứ vào các tài liệu hạch toán về thời gian kết quả lao động và chính sách xã hội về lao động, tiền lương, BHXH do nhà nước ban hành.
Căn cứ vào chứng từ như “ Bảng chấm công”, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, để tính toán tiền lương thời gian, lương sản phẩm, tiền ăn ca cho người lao động.
Tiền lương được tính riêng cho từng người và tổng hợp theo từng bộ phận lao động và phản ánh vào “ Bảng thanh toán tiên lương” lập cho bộ phận đó.
Căn cứ vào chứng từ “ Phiếu nghỉ hưởng BHXH” kế toán tính phụ cấp BHXH phải trả CNV và phản ánh vào “ Bảng thanh toán BHXH”.
Đối với các khoản tiền thưởng CNV, kế toán cần tính toán và lập bảng “ Thanh toán tiền thưởng” để theo dõi và chi trả đúng quy định.
Căn cứ vào “ Bảng thanh toán tiền lương” của từng bộ phận để chi trả, thanh toán tiền lương cho CNV, đồng thời tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng lao động, tính toán trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo tỷ lệ quy định, kết quả tổng hợp, tính toán được phản ánh trong “ Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”.
Việc trả lương CNV trong các doanh nghiệp thường được tiến hành theo hai kỳ trong tháng:
– Kỳ 1: Tạm ứng lương CNV đối với những người tham gia lao động trong tháng.
– Kỳ 2: Sau khi tính lương và các khoản trả CNV, trong tháng doanh nghiệp thanh toán nốt số tiền còn lại được lĩnh trong tháng đó cho CNV sau khi trừ đi các khoản khấu trừ.
Đến kỳ chi trả lương và các khoản thanh toán khác, doanh nghiệp phải chuyển khoản qua ngân hang hoặc thanh toán tiền mặt chi trả lương đồng thời phải lập quỷ nhiệm chi để chuyển số tiền thuộc BHXH cho các cơ quan quản lý quỹ BHXH.
Việc chi trả lương ở doanh nghiệp do thủ quỹ thực hiện. Thủ quỹ căn cứ vào “ Bảng thanh toán lương”. Nếu trong tháng vì một lý do nào đó CNV chưa nhận lương, thủ quỹ phải lập danh sách ghi chuyển họ tên, số tiền của họ từ “ Bảng thanh toán tiền lương” sang “ Bảng thanh toán với CNV chưa nhận lương”.
1.2 Kế toán lao động
1.2.1 Phân loại lao động
1.2.1.1 Phân loại theo tính chất hợp đồng lao động
– Lao động hợp đồng dài hạn: Là những lao động làm việc theo chế độ hợp đồng dài hạn từ một năm trở lên.
– Lao động hợp đồng ngắn hạn: Là những lao động việc theo chế độ hợp đồng thời vụ dưới 1 năm
1.2.1.2 Phân loại theo lao động trực tiếp và gián tiếp
– Lao động trực tiếp: Là lao động tham gia vào trực tiếp sản xuất thành phẩm.
– Lao động gián tiếp: Là lao động phục vụ cho lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh.
1.2.1.3 Phân loại theo chức năng lao động
– Lao động thực hiện chức năng sản xuất
– Lao động thực hiện chức năng bán hàng
– Lao động thực hiện chức năng quản lý
1.2.2 Hạch toán chi tiết lao động
1.2.2.1 Hạch toán số lượng lao động
Để quản lý lao động về mặt số lượng, doanh nghiệp sử dụng “Sổ sách theo dõi lao động của doanh nghiệp” thường do phòng lao động theo dõi. Sổ này hạch toán về mặt số lượng từng loại lao động theo nghề nghiệp, công việc và trình độ tay nghề (cấp bậc kỹ thuật) của công nhân viên. Phòng Lao động có thể lập sổ chung cho toàn doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận để nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp.
1.2.2.2 Hạch toán thời gian lao động
Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép kịp thời chính xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế như ngày nghỉ việc, ngừng việc của từng người lao động, từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này để tính lương phải trả cho từng người.
Để quản lý thời gian lao động, các doanh nghịêp áp dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức và quản lý lao động của doanh nghiệp như: phương pháp chấm công, treo thẻ, bấm giờ, chụp ảnh… Ở nước ta, phương pháp chấm công là phương pháp phổ biến nhất để hạch toán thời gian lao động.
Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp. Bảng chấm công dùng để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế và vắng mặt của cán bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban… Bảng chấm công phải lập riêng cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban và dùng trong một tháng. Danh sách người lao động ghi trong sổ sách lao động của từng bộ phận được ghi trong bảng chấm công, số liệu của chúng phải khớp nhau. Tổ trưởng tổ sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực tiếp ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt đầu ngày làm việc ở đơn vị mình. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ theo qui định như ngày lễ, tết, thứ bảy, chủ nhật đều phải được ghi rõ ràng.
Bảng chấm công phải để lại một địa điểm công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của mình. Cuối tháng tổ trưởng, trưởng phòng tập hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán phụ trách. Nhân viên kế toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công. Sau đó tiến hành tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên phòng lao động tiền lương. Cuối tháng, các bảng chấm công được chuyển cho phòng kế toán tiền lương để tiến hành tính lương. Đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động… thì phải có phiếu nghỉ ốm do bệnh viện, cơ sở y tế cấp và xác nhận. Còn đối với các trường hợp ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì đều phải được phản ánh vào biên bản ngừng việc, trong đó nêu rõ nguyên nhân ngừng việc và người chịu trách nhiệm, để làm căn cứ tính lương và xử lý thiệt hại xảy ra. Những chứng từ này được chuyển lên phòng kế toán làm căn cứ tính trợ cấp, BHXH sau khi đã được tổ trưởng căn cứ vào chứng từ đó ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu qui định.
1.2.2.3 Hạch toán kết quả lao động
Hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp sản xuất. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lương và trả lương chính xác.
Tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau để hạch toán kết quả lao động. Các chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để hạch toán kết quả lao động và phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành, hợp đồng giao khoán…
Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành là chứng từ xác nhận số sản phẩm (công việc) hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động.
Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng sản phẩm và người duyệt. Phiếu được chuyển cho kế toán tiền lương để tính lương áp dụng trong hình thức trả lương theo sản phẩm.
Hợp đồng giao khoán công việc là chứng từ giao khoán ban đầu đối với trường hợp giao khoán công việc. Đó là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán với khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán. Trường hợp khi nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cán bộ kiểm tra chất lượng cùng
1.3 Kế toán tiền lương
1.3.1 Các phương pháp tính lương
Phương pháp tính lương theo thời gian
Phương pháp tính lương khoán theo sản phẩm.
1.3.2 Chứng từ sử dụng và trình tự hạch toán
– Chứng từ sử dụng:
 Bảng chấm công
 Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành
 Hợp đồng lao động
 Bảng thanh toán lương
 Bảng thanh toán tiền thưởng…
– Tài khoản sử dụng
 TK 334 – Phải trả cho công nhân viên
Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của DN
TK 334 có 2 TK cấp 2:
 TK 3341 – Phải trả công nhân viên
 TK 3348 – Phải trả người lao động khác.
Nội dung và kết cấu TK 334:
– Bên Nợ: Các khoản tiền lương, thưởng, trợ cấp BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập CNV.
Các khoản trừ vào tiền lương của CNV.
– Bên Có: Các khoản tiền lương thưởng, trợ cấp BHXH và các khoản khác phải trả CNV.
– Số dư bên Nợ: Số tiền đã trả CNV lớn hơn số tiền phải trả.
– Số dư bên có: Các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản khác còn phải trả cho CNV.
(1) Khi ứng lương cho người lao động, kế toán ghi:
Nợ TK 334-Phải trả CNV
Có TK111- Tiền mặt
Có TK 112 – Tiền gửi Ngân hàng
(2) Cuối tháng, căn cứ vào Bảng phân bổ lương theo từng đối tượng hạch toán, kế toán ghi
Nợ TK 241 : Đối với tiền lương trả cho bộ phận XDCB
Nợ TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 627- Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng
Có TK 334 Phải trả công nhân viên.
(3) Căn cứ vào bảng thanh toán BHXH, ghi số trợ cấp BHXH phải trả cho người lao động trong tháng, kế toán ghi:
Nợ TK 338 (3383) BHXH
Có TK 334 -Phải trả CNV
(4) Căn cứ vào tỷ lệ trích trước lương nghỉ phép kế toán tiến hành trích trước lương nghỉ phép của CNV tính vào chi phí, kế toán ghi
Nợ TK 241 : Đối với tiền lương trả cho bộ phận XDCB
Nợ TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 627- Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 641- Chi phí bán hang
Có TK 335- Chi phí trả trước.
(5) Cuối tháng tổng hợp tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả cho CNV, kế toán ghi:
Nợ TK 335-Chi phí trả trước
Có TK 334- Phải trả CNV
(6) Căn cứ vào bảng thanh toán lương, phản ánh số thuế thu nhập của người lao động phải nộp ngân sách (nếu có)
Nợ TK 334- Phải trả CNV
Có TK333- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
(7) Phản ánh các khoản khấu trừ vào lương, kế toán ghi
Nợ TK 334- Phải trả CNV
Có TK141 – tạm ứng
Có TK 138- phải thu khác
(8) Rút tiền ngân hàng nhập quỹ tiền mặt để chuẩn bị trả lương, thưởng, trợ cấp, kế toán ghi:
Nợ TK 111-tiền mặt
Có TK 112- tiền gửi ngân hang
(9) Thanh toán lương cho người lao động sau khi khấu trừ:
Nợ TK 334- phải trả CNV
Có TK111- tiền mặt
Có TK112 -tiền gửi ngân hàng

Hình 1.1 – Sơ đồ hạch toán chữ T tài khoản 334.
Theo chế độ hiện hành, hàng năm người lao động của doanh nghiệp được nghỉ phép nhưng vẫn hưởng lương, trong trường hợp công nhân nghỉ phép giữa các tháng không đều nhau, để tránh đột biến giá thành sản phẩm giữa các tháng, doanh nghiệp có thể trích trước tiền lương nghỉ phép tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
Tỷ lệ trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân viên được xác định như sau:

1.4 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
TK sử dụng: TK 338 “ Phải trả, phải nộp khác”
TK này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản phải trả, phải nộp khác giữa doanh nghiệp với các doanh khác, giữa doanh nghiệp với cá nhân bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp.
TK 338 có các TK cấp 2 như sau:
 TK 3381 : Tài sản thừa chờ sử lý
 TK 3382 : Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
 TK 3383 : Bảo hiểm xã hội (BHXH)
 TK 3384 : Bảo hiểm y tế (BHYT)
 TK 3385: Phải trả về cổ phần hóa
 TK 3386: Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn
 TK 3387 : Doanh thu chưa thực hiện
 TK 3388 : Phải trả phải nộp khác
 TK 3389 : Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
Nội dung kết cấu TK 338
Bên Nợ: – Các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ đã nộp
– Các khoản trợ cấp BHXH, phải trả cho CNV trong kỳ.
– Các khoản đã chi về KPCĐ
Bên Có: – Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ
– Nhận kinh phí về thanh toán trợ trợ cấpBHXH cho CNV

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>